Bảo đảm tốt hơn quyền con người trong hôn nhân và gia đình

Tại kỳ họp thứ 7, Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua vào ngày 19-6-2014, gồm 10 chương, 133 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2015. Với những sửa đổi, bổ sung quan trọng, phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế – xã hội Việt Nam, Luật này đã đáp ứng kịp thời các yêu cầu khách quan của đời sống hôn nhân và gia đình trong tình hình mới; bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam.
Một trong những nội dung đáng chú ý của đạo luật mới là bổ sung khái niệm “tập quán trong hôn nhân và gia đình” (Điều 7), đồng thời, quy định các điều kiện đối với tập quán được áp dụng trong quan hệ hôn nhân và gia đình (Điều 6). Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tiễn của một bộ phận người dân, nhất là ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.

Tuy nhiên, để tăng tính khả thi của quy định này, các điều kiện cụ thể để tập quán được áp dụng phải là: Tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc dân tộc, không trái với các nguyên tắc luật định và không vi phạm các điều cấm của Luật.

Để bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong thi hành, dự thảo Luật giao cho Chính phủ quy định chi tiết nội dung này. Đồng thời, bỏ quy định giao cho Chính phủ hướng dẫn “các biện pháp tuyên truyền, vận động nhân dân xóa bỏ những tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình” vì công tác vận động, tuyên truyền không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước, mà còn là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể và các cơ quan, tổ chức khác.

Lễ đón dâu trong đám cưới người Dao đỏ.  Ảnh: Internet

Về quy định độ tuổi kết hôn, cơ quan soạn thảo khẳng định độ tuổi kết hôn đã được áp dụng ổn định từ khi có Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, phù hợp với truyền thống văn hóa của Việt Nam cũng như điều kiện để tạo dựng cuộc sống gia đình, không ảnh hưởng đến xu hướng phát triển của xã hội Việt Nam. Quá trình tổng kết thực thi Luật cho thấy, không có khó khăn, trở ngại đối với vấn đề tuổi kết hôn trong thực tiễn cuộc sống. Vì vậy, Luật (sửa đổi) giữ quy định về độ tuổi kết hôn như Luật hiện hành, đó là “Đủ mười tám tuổi trở lên” đối với cả nam và nữ.

Trước thực tế vẫn đang tồn tại việc chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn (hay còn gọi là hôn nhân thực tế), Luật (sửa đổi) bổ sung các quy định giải quyết hậu quả tại các Điều 14 và 15 để có cơ sở pháp lý giải quyết các tranh chấp phát sinh của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, giải quyết quan hệ tài sản, quyền và nghĩa vụ giữa các bên và con, đặc biệt là bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ, trẻ em.

Bên cạnh việc khẳng định rõ nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân tuân thủ pháp luật, đó là quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Một bổ sung quan trọng được dư luận đặc biệt quan tâm là Luật (sửa đổi) bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, đồng thời, khẳng định Nhà nước không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa họ và bổ sung quy định giải quyết hậu quả của việc chung sống giữa những người cùng giới tính về quan hệ tài sản, xác định cha, mẹ, con và quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ và con… Ở góc độ quyền con người, việc bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính thể hiện tính nhân văn, góp phần giảm sự kỳ thị đối với nhóm người này và là cơ sở pháp lý giải quyết hậu quả trên thực tế đối với tình trạng chung sống của một bộ phận người cùng giới tính.

Đối với quan hệ tài sản (Điều 16), được quy định theo nguyên tắc: Nếu không phát sinh quan hệ hôn nhân thì giải quyết theo pháp luật dân sự, đồng thời “phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và các công  việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được xem như lao động có thu nhập”.

Bên cạnh bổ sung các nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng, Luật (sửa đổi) đã bổ sung chế độ tài sản theo thỏa thuận (chế độ tài sản ước định) và quyền của vợ chồng trong việc lựa chọn chế độ tài sản. Quy định này giúp người dân có thêm sự lựa chọn đối với tài sản của vợ chồng, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của gia đình và bản thân; bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền sở hữu, quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt và tự chịu trách nhiệm về tài sản. Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp có thêm căn cứ pháp lý khả thi, linh hoạt hơn, đỡ tốn kém hơn trong giải quyết các vụ việc liên quan đến tài sản trong hôn nhân và gia đình.

Thể hiện rõ hơn tính nhân văn, tiến bộ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Luật (sửa đổi) lần này đã bổ sung các quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (từ Điều 94 đến Điều 100). Đồng thời, Luật nghiêm cấm việc mang thai hộ vì mục đích thương mại và cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo với các điều kiện ràng buộc cụ thể, quy định quyền, nghĩa vụ các bên có liên quan và việc giải quyết tranh chấp.

Quy định cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nhằm đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu chính đáng của các cặp vợ chồng không có khả năng sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, góp phần bảo vệ hạnh phúc gia đình. Hiện nay, với tiến bộ của y học trong nước có thể thực hiện được việc này, nếu pháp luật không điều chỉnh thì một bộ phận người dân có nhu cầu vẫn thực hiện, sẽ phát sinh nhiều hệ lụy trước mắt và lâu dài.

Tuy nhiên, vì đây là vấn đề mới, chưa có kinh nghiệm thực tiễn nên Luật (sửa đổi) đã quy định chặt chẽ, điều kiện phải rõ ràng để tránh việc lợi dụng thương mại hóa, bảo đảm quyền lợi của các bên, quyền lợi trẻ em, quyền lợi, sức khỏe của người mang thai hộ và điều chỉnh các vấn đề có thể xảy ra như đa thai, con khuyết tật, tai biến sản khoa…

Có thể nói, Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi) đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng; khắc phục những tồn tại, hạn chế của quy định hiện hành và đáp ứng kịp thời yêu cầu khách quan của thực tiễn đời sống xã hội; đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật và các nguyên tắc cơ bản về quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình đã được ghi nhận trong Hiến pháp và các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành viên.

HL

(trích bienphong.com.vn)


------
Trân trọng
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ NHIỆT TÂM VÀ CỘNG SỰ
Địa chỉ: Phòng B205, Tòa Nhà M3-M4, số 91 Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ, Quận Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04.62 665 666 – 04.62 912 838 – Fax: 04. 62 662 904.